1. Vốn hóa chi phi lãi vay đầu tư thế nào ?

Xin chào Các Luật sư của Luật Minh Khuê. Tôi có câu hỏi muốn nhờ các Luật sư giải đáp giúp: 01 dự án đóng mới 02 tàu vận tải biển: - Tổng mức đầu tư theo dự toán là: 76 tỷ đồng trong đó ngân hàng cho vay 50 tỷ, giải ngân cho dự án là 34 tỷ.
- Thời gian thực hiện dự án là 18 tháng.

Trong quá trình thi công do 1 số vấn đề phát sinh về vốn đối ứng của doanh nghiệp lên dự án dở dang kéo dài đến hiện tại vẫn dở dang (tính từ lúc khởi công đến thời điểm hiện tại = 5 năm trong đó thực hiện dự án được 1 năm đầu từ năm thứ 2 là không thi công). Tôi muốn hỏi 1 số vấn đề sau:

1. Công ty tôi nhận lại dự án này để tiếp tục đầu tư hoàn thiện đưa vào sử dụng thì số lãi phát sinh từ khi dự án bắt đầu đến thời điểm chúng tôi nhận lại và hoàn thiện có được vốn hóa vào giá của tài sản khi tài sản đưa vào sử dụng không?

2. Vì dự án có 2 sản phẩm, chúng tôi dự định hoàn thành trươc 1 sản phẩm vậy nếu được vốn hóa thì số lãi ấy chia cho từng sản phẩm như thế nào?

choi game cau ca3. Hoàn thành trước 1 sản phẩm công ty chúng tôi đưa vào khai thác thì số lãi phát sinh chia cho sản phẩm đia khai thác và sản phẩm còn dở dang sẽ được chia như thế nào?

choi game cau caMong phản hồi sớm của Luatminhkhue Xin trân thành cảm ơn!

>> Luật sư tư vấn luật doanh nghiệp trực tuyến về lãi vay gọi : 1900.6162

Trả lời:

Vấn để chi phí lãi vay được quy định trong chuẩn mực kế toán số 16 tại Quyết định số 165/2002/QĐ-BTC. Xác định khi nào được vốn hóa chi phí lãi vay, thời điểm bắt đầu vốn hóa và các trường hợp chấm dứt hoặc tạm dừng vốn hóa được quy định tại chuẩn mực số 16 như sau:

HỆ THỐNG CHUẨN MỰC KẾ TOÁN VIỆT NAM

Chuẩn mực số 16

CHI PHÍ ĐI VAY
(Ban hành và công bố theo Quyết định số 165/2002/QĐ-BTC ngày 31 tháng 12 năm 2002 của Bộ trưởng Bộ Tài chính)

" Ghi nhận chi phí đi vay

06. Chi phí đi vay phải ghi nhận vào chi phí sản xuất, kinh doanh trong kỳ khi phát sinh, trừ khi được vốn hoá theo quy định tại đoạn 07.

07. Chi phí đi vay liên quan trực tiếp đến việc đầu tư xây dựng hoặc sản xuất tài sản dở dang được tính vào giá trị của tài sản đó (được vốn hoá) khi có đủ các điều kiện quy định trong chuẩn mực này.

08. Chi phí đi vay liên quan trực tiếp đến việc đầu tư xây dựng hoặc sản xuất tài sản dở dang được tính vào giá trị của tài sản đó. Các chi phí đi vay được vốn hoá khi doanh nghiệp chắc chắn thu được lợi ích kinh tế trong tương lai do sử dụng tài sản đó và chi phí đi vay có thể xác định được một cách đáng tin cậy.

Xác định chi phí đi vay được vốn hoá

09. Trường hợp khoản vốn vay riêng biệt chỉ sử dụng cho mục đích đầu tư xây dựng hoặc sản xuất một tài sản dở dang thì chi phí đi vay có đủ điều kiện vốn hoá cho tài sản dở dang đó sẽ được xác định là chi phí đi vay thực tế phát sinh từ các khoản vay trừ (-) đi các khoản thu nhập phát sinh từ hoạt động đầu tư tạm thời của các khoản vay này.

10. Các khoản thu nhập phát sinh từ hoạt động đầu tư tạm thời của các khoản vốn vay riêng biệt trong khi chờ được sử dụng vào mục đích có được tài sản dở dang thì phải ghi giảm trừ vào chi phí đi vay phát sinh khi vốn hoá.

11. Trường hợp phát sinh các khoản vốn vay chung, trong đó có sử dụng cho mục đích đầu tư xây dựng hoặc sản xuất một tài sản dở dang thì số chi phí đi vay có đủ điều kiện vốn hoá trong mỗi kỳ kế toán được xác định theo tỷ lệ vốn hoá đối với chi phí luỹ kế bình quân gia quyền phát sinh cho việc đầu tư xây dựng hoặc sản xuất tài sản đó. Tỷ lệ vốn hoá được tính theo tỷ lệ lãi suất bình quân gia quyền của các khoản vay chưa trả trong kỳ của doanh nghiệp, ngoại trừ các khoản vay riêng biệt phục vụ cho mục đích có một tài sản dở dang. Chi phí đi vay được vốn hoá trong kỳ không được vượt quá tổng số chi phí đi vay phát sinh trong kỳ đó.

12. Nếu có phát sinh chiết khấu hoặc phụ trội khi phát hành trái phiếu thì phải điều chỉnh lại lãi tiền vay bằng cách phân bổ giá trị khoản chiết khấu hoặc phụ trội và điều chỉnh tỷ lệ vốn hoá một cách phù hợp. Việc phân bổ khoản chiết khấu hoặc phụ trội có thể sử dụng phương pháp lãi suất thực tế hoặc phương pháp đường thẳng. Các khoản lãi tiền vay và khoản phân bổ chiết khấu hoặc phụ trội được vốn hoá trong từng kỳ không được vượt quá số lãi vay thực tế phát sinh và số phân bổ chiết khấu hoặc phụ trội trong kỳ đó.

Thời điểm bắt đầu vốn hoá

13. Vốn hoá chi phí đi vay vào giá trị tài sản dở dang được bắt đầu khi thoả mãn đồng thời các điều kiện sau:

(a) Các chi phí cho việc đầu tư xây dựng hoặc sản xuất tài sản dở dang bắt đầu phát sinh;

(b) Các chi phí đi vay phát sinh;

(c) Các hoạt động cần thiết trong việc chuẩn bị đưa tài sản dở dang vào sử dụng hoặc bán đang được tiến hành.

14. Chi phí cho việc đầu tư xây dựng hoặc sản xuất một tài sản dở dang bao gồm các chi phí phải thanh toán bằng tiền, chuyển giao các tài sản khác hoặc chấp nhận các khoản nợ phải trả lãi, không tính đến các khoản trợ cấp hoặc hỗ trợ liên quan đến tài sản.

15. Các hoạt động cần thiết cho việc chuẩn bị đưa tài sản vào sử dụng hoặc bán bao gồm hoạt động xây dựng, sản xuất, hoạt động kỹ thuật và quản lý chung trước khi bắt đầu xây dựng, sản xuất như hoạt động liên quan đến việc xin giấy phép trước khi khởi công xây dựng hoặc sản xuất. Tuy nhiên những hoạt động này không bao gồm việc giữ một tài sản khi không tiến hành các hoạt động xây dựng hoặc sản xuất để thay đổi trạng thái của tài sản này. Ví dụ chi phí đi vay liên quan đến việc mua một mảnh đất cần có các hoạt động chuẩn bị mặt bằng sẽ được vốn hoá trong kỳ khi các hoạt động liên quan đến việc chuẩn bị mặt bằng đó. Tuy nhiên, chi phí đi vay phát sinh khi mua mảnh đất đó để giữ mà không có hoạt động triển khai xây dựng liên quan đến mảnh đất đó thì chi phí đi vay không được vốn hoá.

Tạm ngừng vốn hoá

16. Việc vốn hoá chi phí đi vay sẽ được tạm ngừng lại trong các giai đoạn mà quá trình đầu tư xây dựng hoặc sản xuất tài sản dở dang bị gián đoạn, trừ khi sự gián đoạn đó là cần thiết.

17. Việc vốn hoá chi phí đi vay được tạm ngừng lại khi quá trình đầu tư xây dựng hoặc sản xuất tài sản dở dang bị gián đoạn một cách bất thường. Khi đó chi phí đi vay phát sinh được ghi nhận là chi phí sản xuất, kinh doanh trong kỳ cho đến khi việc đầu tư xây dựng hoặc sản xuất tài sản dở dang được tiếp tục.

Chấm dứt việc vốn hoá

18. Việc vốn hoá chi phí đi vay sẽ chấm dứt khi các hoạt động chủ yếu cần thiết cho việc chuẩn bị đưa tài sản dở dang vào sử dụng hoặc bán đã hoàn thành. Chi phí đi vay phát sinh sau đó sẽ được ghi nhận là chi phí sản xuất, kinh doanh trong kỳ khi phát sinh.

19. Một tài sản sẵn sàng đưa vào sử dụng hoặc bán khi quá trình đầu tư xây dựng hoặc sản xuất tài sản đã hoàn thành cho dù các công việc quản lý chung vẫn có thể còn tiếp tục. Trường hợp có sự thay đổi nhỏ (như trang trí tài sản theo yêu cầu của người mua hoặc người sử dụng) mà các hoạt động này chưa hoàn tất thì hoạt động chủ yếu vẫn coi là đã hoàn thành.

20. Khi quá trình đầu tư xây dựng tài sản dở dang hoàn thành theo từng bộ phận và mỗi bộ phận có thể sử dụng được trong khi vẫn tiếp tục quá trình đầu tư xây dựng các bộ phận khác, thì việc vốn hoá các chi phí đi vay sẽ chấm dứt khi tất cả các hoạt động chủ yếu cần thiết cho việc chuẩn bị đưa từng bộ phận vào sử dụng hoặc bán đã hoàn thành.

21. Một khu thương mại bao gồm nhiều công trình xây dựng, mỗi công trình có thể sử dụng riêng biệt thì việc vốn hoá sẽ được chấm dứt đối với vốn vay dùng cho từng công trình riêng biệt hoàn thành. Tuy nhiên, đối với xây dựng một nhà máy công nghiệp gồm nhiều hạng mục công trình trên một dây chuyền thì việc vốn hoá chỉ chấm dứt khi tất cả các hạng mục công trình cùng được hoàn thành."

Trong trường hợp này của bạn, do công ty bạn nhận lại dự án này để tiếp tục đầu tư hoàn thiện đưa vào sử dụng, chính vì vậy số lãi phát sinh từ khi dự án bắt đầu đến thời điểm nhận lại và hoàn thiện sẽ được vốn hóa vào giá của tài sản khi tài sản đưa vào sử dụng.

Do công ty chỉ hoàn thành một sản phẩm trước chính vì vậy chi phí lãi được vốn hóa sẽ được áp dụng cho sản phẩm được tiến hành hoàn thành. Sau khi sản phẩm đã hoàn thành và đi vào khai thác thì việc vốn hóa sẽ chấm dứt đối với sản phẩm này và sẽ tiếp tục được chuyển sang vốn hóa cho sản phẩm còn lại.

Mọi vướng mắc bạn vui lòng trao đổi trực tiếp với Luật sư tư vấn pháp luật trực tuyến qua tổng đài 24/7 gọi số: 1900.6162 hoặc gửi qua email: Tư vấn pháp luật doanh nghiệp qua Email để nhận được sự tư vấn, hỗ trợ từ Luật Minh Khuê.

>> Xem thêm:  Cách tính số tiền phải trả cả gốc và lãi khi vay vốn sinh viên ? Điều kiện cho sinh viên vay vốn ưu đãi ?

2. Chính sách lãi suất được ban hành dựa trên những yếu tố nào ?

Nghị quyết của Quốc hội về kế hoạch phát triển kinh tế – xã hội năm 2010 đã xác định mục tiêu tổng quát của năm 2010 là “nỗ lực phấn đấu phục hồi tốc độ tăng trưởng kinh tế đạt mức cao hơn năm 2009, tăng tính ổn định kinh tế vĩ mô; nâng cao chất lượng tăng trưởng; ngăn chặn lạm phát cao trở lại; tăng khả năng bảo đảm an sinh xã hội; chủ động hội nhập và nâng cao hiệu quả hợp tác kinh tế quốc tế; giữ vững ổn định chính trị và trật tự an toàn xã hội; bảo đảm yêu cầu quốc phòng, an ninh; phấn đấu đạt mức cao nhất các chỉ tiêu của Kế hoạch phát triển kinh tế – xã hội 5 năm 2006 – 2010”. Trong đó, vai trò của Ngân hàng Nhà nước Việt Nam (NHNN) góp phần thực hiện thành công các mục tiêu trên là không nhỏ, đặc biệt trong bối cảnh sức ép gia tăng lạm phát như hiện nay.

Nhìn lại năm 2009, khủng hoảng kinh tế tài chính toàn cầu đã đặt hệ thống ngân hàng Việt Nam đứng trước một năm đầy khó khăn và thách thức. Trên cơ sở bám sát chỉ đạo, điều hành của Chính phủ cùng với sự nỗ lực của toàn ngành, hoạt động ngân hàng năm 2009 đã đạt được nhiều kết quả tích cực. Trong đó, nổi bật là việc triển khai kịp thời cơ chế hỗ trợ lãi suất, điều hành chính sách tiền tệ và hoạt động của các ngân hàng thương mại (NHTM) trong năm 2009 đã có sự ổn định tương đối so với năm 2008. Tuy nhiên, trên thực tế, những biến động và căng thẳng trên thị trường tiền tệ vẫn còn tồn tại, ở một số thời điểm, đã có những ảnh hưởng đến hoạt động của các doanh nghiệp và tâm lý của người dân trong nền kinh tế, đồng thời cũng đặt ra những thách thức đối với hoạt động của ngành Ngân hàng trong năm 2010. Một trong những vấn đề của năm 2009, mặc dù đã có những giải đáp cụ thể về chính sách điều hành, song, trong những tháng đầu năm 2010, vẫn nổi lên những vấn đề tranh luận xoay quanh việc điều hành chính sách lãi suất của NHNN, đặc biệt là việc dỡ bỏ trần lãi suất huy động có được thực hiện hay không đã gây ảnh hưởng không tích cực đến sự ổn định của hệ thống ngân hàng.

>> Luật sư tư vấn luật đầu tư nước ngoài trực tuyến gọi: 1900.6162

Cơ sở lý luận và thực tiễn của chính sách lãi suất hiện nay

Mục tiêu đầu tiên và quan trọng nhất của phần lớn Ngân hàng Trung ương (NHTƯ) của các nước trên thế giới cũng như NHNN Việt Nam là ổn định giá trị đồng tiền của quốc gia – thông qua việc kiểm soát lạm phát. Trong đó, lãi suất là một trong những công cụ điều hành chính sách tiền tệ (CSTT) của NHTƯ để đạt được mục tiêu tôn chỉ đó.

Về phương diện lý thuyết, lãi suất danh nghĩa và lạm phát có mối quan hệ cùng chiều. Khi lạm phát tăng thì lãi suất danh nghĩa tăng để đảm bảo mức lãi suất thực[i] được chấp nhận bởi các chủ thể trong nền kinh tế. Triển vọng của lãi suất thực có ảnh hưởng đến các kỳ vọng và hoạt động chi tiêu và đầu tư. Sau khi xác định được các kỳ vọng lạm phát, nếu người tiêu dùng tin rằng lãi suất tiết kiệm sẽ không thay đổi hoặc tăng rất thấp, nghĩa là lãi suất thực sẽ âm thì họ sẽ có khuynh hướng rút tiền gửi tiết kiệm và đầu tư vào bất động sản hoặc chứng khoán để bảo vệ sức mua. Điều này sẽ tạo nên bong bóng trên thị trường bất động sản và ngay lập tức sẽ làm cho CPI có xu hướng gia tăng, vì thế, lãi suất thực sẽ là một biến s quan trọng, ảnh hưởng trực tiếp đến quyết định tiêu dùng, đầu tư của các chủ thể trong nền kinh tế,đồng thời cũng là biến số tác động đến kỳ vọng lạm phát. Do vậy, NHTƯ các nước thường kiểm soát kỳ vọng lạm phát thông qua xu hướng của lãi suất thực. Thông thường, NHTƯ sẽ bắt đầu tăng tỷ lệ lãi suất dần dần khi lạm phát tiến gần tới lãi suất tiền gửi danh nghĩa. Điều này phát đi một tín hiệu là NHTƯ sẽ có khuynh hướng duy trì chính sách lãi suất thực dương. Dấu hiệu này cũng sẽ làm suy yếu các kỳ vọng của thị trường về lãi suất thực âm và tăng giá của tài sản.

Mối quan hệ giữa lãi suất và lạm phát được hình thành dựa trên sự ảnh hưởng của lãi suất lên tổng cầu[ii], và đó cũng là điểm mấu chốt để sử dụng lãi suất trong việc quản lý kinh tế. Trong cấu phần của tổng cầu có hai yếu tố sẽ chịu tác động trực tiếp của việc thay đổi lãi suất là tiêu dùng và đầu tư. Trong đó, tiêu dùng sẽ giảm xuống khi lãi suất tăng lên là do giá cả của việc vay mượn cho nhu cầu tiêu dùng trở nên đắt đỏ hơn. Đối với đầu tư, chi phí vay mượn tăng làm cho khả năng sinh lời của các khoản đầu tư trở nên thấp hơn. Vì thế mà việc tăng lãi suất cũng sẽ làm giảm mức độ đầu tư, tuy nhiên, mức độ đầu tư giảm còn phụ thuộc vào sự co dãn của cầu đầu tư so với lãi suất. Ngược lại, khi lãi suất giảm xuống thì hành vi của người tiêu dùng và nhà đầu tư thay đổi theo hướng ngược lại. Sự thay đổi đó được thể hiện bằng sự dịch chuyển của đường tổng cầu (xem Biểu đồ 1).

Biểu 1: Ảnh hưởng lãi suất đến tổng cầu

Chính vì mối quan hệ trên nên lãi suất đã trở thành công cụ được lựa chọn để kiểm soát lạm phát mục tiêu và kiểm soát các kỳ vọng lạm phát hữu hiệu. Cơ chế truyền dẫn của lãi suất đến lạm phát thường được mô tả như sau: (xem Biểu đồ 2).

Biểu 2: Từ lãi suất đến lạm phát và tăng trưởng kinh tế

(*)Trong đó, lãi suất chính thức là lãi suất chỉ đạo của NHTW công bố làm cơ sở tham khảo một cách chuẩn mực (Ví dụ như Federal Fund rate của Mỹ, Overnight rate của Anh) để các NHTM hình thành nên các mức lãi suất huy động và cho vay đối với nền kinh tế, đồng thời các mức lãi suất này cũng là một chỉ báo về động thái điều hành CSTT của NHTW. Tại phần lớn các nước, tỷ lệ lãi suất chính thức – thường được gọi là lãi suất cơ bản, lãi suất chuẩn, sẽ phát huy vai trò truyền dẫn tác động của CSTT đến việc thực hiện các mục tiêu kinh tế vĩ mô (tăng trưởng, lạm phát,việc làm,…)

Trong lịch sử phát triển kinh tế, có rất nhiều nhà kinh tế học nổi tiếng đã nghiên cứu và đưa ra những lý thuyết cơ bản về lãi suất, song John Taylor, một tên tuổi lừng danh trong giới chuyên gia kinh tế, nhất là chuyên gia trong lĩnh vực tiền tệ và kinh tế vĩ mô của Mỹ, người đã kỳ công trong việc nghiên cứu dựa trên các học thuyết kinh tế kinh điển để đưa ra cách tính toán lãi suất danh nghĩa phù hợp trong mối quan hệ với tăng trưởng và lạm phát – mà giới kinh tế thường gọi là quy tắc Taylor.

Quy tắc Taylor sẽ giúp cho một NHTƯ xác định được các tỷ lệ lãi suất trong ngắn hạn khi các điều kiện kinh tế thay đổi để đạt được hai mục tiêu là ổn định kinh tế trong ngắn hạn và kiểm soát lạm phát trong dài hạn.

Quy tắc Taylor có thể được mô tả theo phương trình sau:

Trong đó:

+ Lãi suất danh nghĩa ngắn hạn mục tiêu

+ Lạm phát thực tế

+ Tỷ lệ lạm phát mục tiêu của NHTW

+ Lãi suất thực tại điểm cân bằng của thị trường

+ Logarit của tổng sản lượng GDP thực tế

+ Logarit của tổng sản lượng GDP tiềm năng

Để áp dụng quy tắc Taylor, NHTƯ xác định một mức lãi suất thực ngắn hạn nên dựa trên 3 yếu tố: lạm phát thực tế so với lạm phát mục tiêu; chênh lệch giữa sản lượng thực tế so với sản lượng tiềm năng; mức lãi suất ngắn hạn tại đó nền kinh tế đạt mức toàn diện nhân công.

Quy tắc Taylor khuyến nghị một mức lãi suất tương đối cao (CSTT thắt chặt) để giảm áp lực lạm phát trong trường hợp lạm phát cao hơn mức lạm phát mục tiêu hoặc sản lượng vượt trên mức sản lượng tiềm năng. Trong trường hợp ngược lại, quy tắc Taylor khuyến nghị một mức lãi suất tương đối thấp (CSTT nới lỏng) để thúc đẩy tăng trưởng. Quy định tỷ lệ a lớn hơn 0, quy tắc Taylor nói rằng lạm phát tăng 1% đòi hỏi NHTƯ tăng lãi suất danh nghĩa lên hơn 1% (cụ thể, bằng 1+aπ).

Đôi lúc, các mục tiêu của CSTT có thể mâu thuẫn với nhau, ví dụ lạm phát vượt lạm phát mục tiêu trong khi sản lượng lại dưới mức sản lượng tiềm năng. Trong trường hợp đó, quy tắc Taylor cung cấp chỉ dẫn cho các nhà hoạch định chính sách cách cân bằng các mục tiêu này qua việc thiết lập một mức lãi suất phù hợp. Mức lãi suất phù hợp này thường được xem là “mức lãi suất trung hòa”. Tuy nhiên, các nhà kinh tế học đã chỉ ra rằng việc xác định và tính toán mức lãi suất trung hòa này gặp rất nhiều khó khăn, đặc biệt là sự không chắc chắn về mặt số liệu và mô hình. Bên cạnh đó, có nhiều cách khác nhau trong việc xác định mức lãi suất trung hòa do các phương pháp tính và mức lãi suất trung hòa còn phụ thuộc vào các điều kiện kinh tế. Mặt khác, một mức lãi suất trung hòa có thể còn khiến tình trạng mâu thuẫn giữa các mục tiêu này kéo dài hơn mức cần thiết.

Một vấn đề được quan tâm trong lý thuyết kinh tế khi phân tích các tác động chính sách, đó là độ trễ thời gian tác động của thay đổi chính sách gắn với các yếu tố tiền tệ (lãi suất, cung tiền, tỷ giá…) tới các yếu tố vĩ mô như đầu tư, lạm phát. Bởi các quyết sách chỉ có hiệu quả cao nếu xác định được độ trễ này. Tuy nhiên, đây là một vấn đề không đơn giản, vì cùng một chính sách nhưng độ trễ tác động là rất khác nhau trong từng thời kỳ phát triển của nền kinh tế. Có rất nhiều sự thay đổi và không chắc chắn xung quanh độ trễ thời gian trên. Cụ thể, tác động chính sách sẽ phụ thuộc nhiều nhân tố khác nhau, như chu kỳ kinh doanh, lòng tin của người tiêu dùng và phản ứng của họ như thế nào đối với sự thay đổi chính sách, giai đoạn của chu kỳ kinh doanh, các sự kiện trong nền kinh tế thế giới và kỳ vọng về lạm phát trong tương lai. Chẳng hạn, về nguyên lý chung thì lãi suất tăng sẽ hạn chế đầu tư, giảm lạm phát, nhưng lãi suất cũng làm tăng giá thành sản phẩm qua đó tác động làm tăng giá. Vì sự tác động mang tính hai mặt như vậy, đòi hỏi phải xác định độ trễ tác động này để có những quyết định sử dụng công cụ lãi suất theo hướng tăng hay giảm cho mục tiêu kiểm soát lạm phát.

Đối với các nền kinh tế thị trường chưa phát triển như Việt Nam, nhiều quan hệ kinh tế chưa thực sự mang tính thị trường thì việc vận dụng các nền tảng lý thuyết trên để hoạch định chính sách lãi suất cần có sự linh hoạt, bám sát mục tiêu định hướng phát triển kinh tế – xã hội cũng như các diễn biến thực tế của thị trường. Trong điều kiện như hiện nay, để đạt được mục tiêu định hướng nêu trên, hoạch định chính lãi suất của NHNN cần phải xem xét đến các yếu tố thực tế sau:

- Thực trạng của nền kinh tế nước ta hiện nay đang phải đối mặt với áp lực lạm phát và với sức phục hồi nền kinh tế còn thiếu vững chắc: Mặc dù tăng trưởng kinh tế quí I/2010 đạt 5,83%, cao hơn nhiều mức tăng trưởng quí I/2009, vốn đầu tư toàn xã hội tăng 26,23%, cao hơn rất nhiều mức tăng 9% của quý I/2009, song nhập siêu vẫn ở mức đáng lo ngại (xuất khẩu đạt 14 tỷ USD, nhập khẩu đạt 17,5 tỷ USD, nhập siêu đạt 3,5 tỷ USD), lạm phát tuy vẫn trong tầm kiểm soát nhưng đang có xu hướng tăng trở lại. (Xem đồ thị 1)

Nguồn: Tổng cục Thống kê

- Cho đến thời điểm hiện nay, có thể thấy hệ thống ngân hàng Việt Nam đã có sự phát triển vượt bậc về nhiều mặt, đặc biệt trong việc ứng dụng các công nghệ ngân hàng mới. Tuy nhiên, năng lực tài chính, năng lực quản trị, khả năng cạnh tranh của các thành viên trên thị trường tài chính không đồng đều, tính bền vững trong phát triển chưa cao: Xét trong hệ thống các tổ chức tín dụng với 73 ngân hàng và 08 tổ chức tín dụng phi ngân hàng chỉ có một số ít các ngân hàng thương mại có vốn điều lệ và tài sản có lớn. Riêng khối NHTM nhà nước (3 NHTM nhà nước, 2 NHTM mà trong đó Nhà nước chiếm cổ phần chi phối, 1 Ngân hàng Chính sách xã hội) vốn điều lệ đã chiếm 27,28% tổng vốn điều lệ của cả khối, thị phần huy động vốn và cung cấp tín dụng khoảng 60% (xem Biểu đồ 3); mức chênh lệch trong chiếm lĩnh thị phần của một ngân hàng lớn nhất với một ngân hàng lớn kế tiếp là tương đối lớn. Mức độ lớn về vốn điều lệ và tài sản có quyết định khả năng cạnh tranh của ngân hàng. Đối với những ngân hàng có vốn nhỏ vẫn có sức mạnh trong cạnh tranh thị trường, song với một cấu trúc thị trường có tồn tại nhiều các NHTM có vốn và thị phần thấp thường nảy sinh những hành vi hạn chế cạnh tranh hay cạnh tranh không lành mạnh. Mặt khác, đối với nhóm ngân hàng lớn, thông qua vị thế mạnh của mình trong hệ thống, những hành vi chi phối thị trường của các ngân hàng này có thể gây ảnh hưởng tới tác động tổng thể của chính sách NHNN nói chung và chính sách lãi suất nói riêng.

Nguồn: NHNN

Tình trạng đua nhau tăng lãi suất cho vay và lãi suất huy động trong năm 2008 và những biểu hiện của thị trường những tháng đầu năm 2010 là sự biểu hiện rõ nét của tình trạng cạnh tranh thiếu lành mạnh. Khi NHNN thực hiện cơ chế lãi suất thỏa thuận đối với cho vay trung hạn, các NHTM đã đẩy mức lãi suất cho vay rất cao, khoảng 18%. Mức lãi suất này đãhạn chế khả năng mở rộng tín dụng của các NHTM (mức tăng trưởng tín dụng quí I chỉ đạt 3,34%). Trong quí I/2010, tăng trưởng tín dụng không cao, nguồn vốn vay của các NHTM từ NHNN để đáp ứng thanh khoản tăng lên, điều đó cho thấy vốn của các NHTM là không khan hiếm. Do vậy, với mức lãi suất huy động mà NHNN đã khuyến cáo các NHTM cần thực hiện theo thỏa thuận của Hiệp hội Ngân hàng là 10,5% và lạm phát mục tiêu của Chính phủ là 7% thì đã đảm bảo một mức lãi suất thực hợp lý cho người gửi tiền, nhưng phản ứng của các NHTM là vẫn đua nhau tăng mức lãi suất huy động cao hơn dưới nhiều hình thức. Những hiện tượng này biểu hiện sự bất cập lớn của thị trường, nếu không có những biện pháp ngăn chặn sẽ gây ra những bất ổn của hệ thống ngân hàng, từ đó có thể gây ra khủng hoảng ngân hàng.

Trong cấu trúc thị trường hiện nay, còn có một đặc điểm ảnh hưởng không nhỏ đến tính hiệu quả của tự do hóa lãi suất, đó là thị phần tín dụng áp dụng mức lãi suất chính sách là không nhỏ[iii]. Ngoài các khoản vay áp dụng cơ chế hỗ trợ lãi suất trong thời gian qua, thì chúng ta cũng có không ít các dự án, các lĩnh vực sản xuất được áp dụng lãi suất ưu đãiđược thực hiện thông qua Ngân hàng Phát triển, Ngân hàng Chính sách xã hội, các dự án đầu tư phát triển được sử dụng các nguồn vốn ưu đãi ODA khác nữa… Các chính sách ưu đãi này là cần thiết trong quá trình phát triển nền kinh tế hiện nay, nhưng ở chừng mực nào đó nó làm giảm hiệu quả của chính sách tự do hóa lãi suất, vì khi đó lãi suất hình thành trên thị trường chưa phản ánh đúng cung cầu vốn nên việc phân bổ nguồn vốn qua công cụ lãi suất cũng bị méo mó.

- Các nhà đầu tư nắm bắt thông tin thị trường không đầy đủ, dẫn đến phản ứng theo “bầy đàn” – là đặc điểm nổi bật của thị trường tài chính của Việt Nam hiện nay. Đặc điểm này dễ gây nên những kỳ vọng về lạm phát trước bất cứ một động thái chính sách kinh tế vĩ mô nào tạo tín hiệu áp lực lạm phát, nhất là chính sách tiền tệ – một chính sách theo đuổi mục tiêu lạm phát là trụ cột.

- Về lý thuyết, khi cân nhắc lợi ích thu được từ các quyết định đầu tư, kinh doanh, các chủ thể trong nền kinh tế thường sẽ quan tâm đến mức lãi suất thực mà mình được nhận được là bao nhiêu. Nhìn vào thực tế của Việt Nam, hiện tại, mức lãi suất thực mà người gửi tiền nhận được là mức lãi suất thực dương, trung bình trong 3 tháng đầu năm 2010 khoảng 2,8% – chưa kể đến các hình thức khuyến mại khác. Tuy nhiên, lãi suất thực đang có xu hướng giảm xuống bắt đầu từ tháng 2 do ảnh hưởng của tốc độ gia tăng CPI. Và trong trường hợp này, thường để theo đuổi mục tiêu lãi suất thực dương thì lãi suất danh nghĩa sẽ được tăng dần lên. Như vậy có nghĩa là các NHTM sẽ vẫn có thể tăng lãi suất huy động để cạnh tranh thu hút vốn nếu như NHNN dỡ bỏ trần lãi suất huy động vào thời điểm này. Hơn nữa, với xu hướng này, một tín hiệu nâng lãi suất chính sách có thể tạo ra kỳ vọng về lạm phát. (Xem Đồ thị 2)

Mặt khác, xét về góc độ lãi suất thực tác động đến tăng trưởng kinh tế, thì hiện nay, các nhà đầu tư vay vốn ngân hàng đang chịu một mức lãi suất thực tương đối cao. Đánh giá tác động của lãi suất thực đến tăng trưởng kinh tế, theo kết quả ước lượng mô hình đánh giá tác động của lãi suất thực lên tăng trưởng kinh tế theo phương pháp OLS (41 quan sát từ quý I/2000 đến tháng 3/2010 với mức ý nghĩa 10%) cho thấy khi lãi suất thực cho vay ngắn hạn tăng 1% sẽ làm tăng trưởng kinh tế giảm 0,04% so với quý trước. Điều này là hoàn toàn phù hợp với lý thuyết về mối quan hệ ngược chiều giữa lãi suất, đầu tư và tổng sản lượng trong nền kinh tế. Tuy nhiên, ngoài lãi suất thực còn nhiều yếu tố khác tác động lên tăng trưởng kinh tế, vì vậy, mức độ biến động của lãi suất thực mới chỉ giải thích được 12,3% biến động của tăng trưởng kinh tế. (Xem Đồ thị 3)

- Là một nền kinh tế đôla hóa, lãi suất đồng nội tệ, lãi suất ngoại tệ và tỷ giá có mối quan hệ chặt chẽ với nhau, với mức chênh lệch quá lớn giữa lãi suất nội tệ với lãi suất đồng ngoại tệ cộng với mức kỳ vọng về tỷ giá sẽ làm dịch chuyển sự nắm giữ giữa đồng nội tệ và đồng ngoại tệ của các thành viên trong thị trường, điều này sẽ gây ra những rối loạn thị trường, tạo áp lực lên tỷ giá. Do vậy, chính sách lãi suất tiền đồng cũng phải giải quyết hài hòa mối quan hệ này. Trong năm 2009, vấn đề tỷ giá nổi lên như một điểm nhấn của sự ổn định, chính sách lãi suất của NHNN cùng hàng loạt các chính sách khác (như yêu cầu các tổng công ty lớn bán ngoại tệ cho NHNN, điều chỉnh tỷ giá công bố, điều chỉnh dự trữ bắt buộc bằng ngoại tệ, qui định trần lãi suất tiền gửi ngoại tệ của các doanh nghiệp…) đã phải hướng tới sự ổn định này.

Định hướng chính sách

Chính sách lãi suất là một công cụ của CSTT, vì vậy, mục tiêu theo đuổi của chính sách lãi suất phải nằm trong mục tiêu của CSTT, quá trình hoàn thiện cơ chế điều hành lãi suất trong từng thời kỳ luôn phải đảm bảo mục tiêu bao trùm của CSTT là ổn định tiền tệ, kiểm soát lạm phát, hỗ trợ tăng trưởng kinh tế và ổn định kinh tế vĩ mô. Điều đó có nghĩa, sự thay đổi cơ chế điều hành lãi suất không được gây ra những cú sốc thị trường, đảm bảo tính ổn định và thực hiện các mục tiêu kiểm soát lạm phát, tăng trưởng kinh tế. Đây là nguyên tắc cơ bản trong hoạch định chính sách lãi suất từng thời kỳ.

- Trên nguyên tắc đó, trong năm 2010, hai vấn đề nổi lên mà chính sách lãi suất cần hướng tới nhiều hơn, đó là áp lực lạm phát gắn với hỗ trợ tăng trưởng kinh tế và ổn định kinh tế vĩ mô, theo đó, chính sách này phải giải quyết được những mối quan hệ ràng buộc và bất cập hiện nay trên thị trường tiền tệ, nhưng đồng thời cùng với các công cụ chính sách khác thúc đẩy thị trường tiền tệ phát triển. Do vậy, tự do hóa lãi suất là mục tiêu cần hướng tới để đảm bảo sự vận hành của thị trường về cơ bản tuân theo qui luật cung cầu, phân bổ nguồn vốn hợp lý. Song với thực trạng nền kinh tế đang phải đối mặt cùng với những bất cập của thị trường tiền tệ thì áp dụng cơ chế kiểm soát lãi suất trực tiếp là cần thiết, và từng bước tạo dựng những điều kiện cần thiết để tự do hóa lãi suất.

- Trước mắt là phải thiết lập một mức lãi suất cơ bản định hướng được lãi suất thị trường. Theo kinh nghiệm của một số nước trên thế giới, để có thể phát huy được tốt vai trò định hướng của lãi suất cơ bản thì bản thân NHTƯ của quốc gia đó phải xác định được những mục tiêu điều hành cụ thể trên cơ sở định lượng cụ thể về lạm phát, tăng trưởng, hoặc lãi suất ngắn hạn mà tại đó nền kinh tế đạt trạng thái cân bằng. Vì vậy, việc hoàn thiện cơ chế hình thành lãi suất cơ bản – làm cơ sở định hướng chuẩn mực cho lãi suất thị trường liên ngân hàng, thị trường tiền tệ là một việc cần thiết phải thực hiện trong thời gian này.

- Trên cơ sở mức lãi suất cơ bản, hình thành đồng bộ các mức lãi suất chỉ đạo, như lãi suất tái cấp vốn, lãi suất chiết khấu, lãi suất cho vay qua đêm và lãi suất nghiệp vụ thị trường mở nhằm chủ động điều tiết lãi suất thị trường và các hành vi cho vay, đi vay của các thành viên trên thị trường tiền tệ. Lượng tiền cung ứng sẽ được điều tiết hợp lý để đảm bảo các mức lãi suất mục tiêu.

- Đối với lãi suất huy động, do những bất cập về cấu trúc thị trường hiện nay làm nảy sinh tình trạng cạnh tranh lãi suất thiếu lành mạnh, cũng như là diễn biến của lãi suất thực huy động có thể làm kỳ vọng lạm phát gia tăng nên việc thực hiện duy trì mức lãi suất trần trong giai đoạn này là cần thiết để bình ổn mặt bằng lãi suất.

Đồng thời trong thời gian này, NHNN cũng sẽ tích cực hỗ trợ thanh khoản đối với NHTM với kỳ hạn dài hơn, khối lượng lớn hơn so với trước đây, hỗ trợ thông qua tái cấp vốn và hoán đổi ngoại tệ và chỉ đạo các NHTM nhà nước giữ vai trò chủ đạo trong cung ứng vốn và điều chỉnh lãi suất giảm dần phù hợp diễn biến nền kinh tế.

Tuy nhiên, về lâu dài, khi các xu hướng đầu tư đã rõ nét, nền kinh tế dần ổn định thì việc tháo dỡ trần lãi suất huy động cũng sẽ được thực hiện nhằm tuân thủ các nguyên tắc trên con đường tự do hóa lãi suất đã lựa chọn.

Tiếp tục hoàn thiện cơ chế chế điều hành lãi suất, ổn định mặt bằng lãi suất để kiểm soát lạm phát hướng tới ổn định kinh tế vĩ mô là nhiệm vụ trước mắt và trọng tâm của ngành Ngân hàng trong năm 2010. Để thực hiện nhiệm vụ đó, ngành Ngân hàng đang triển khai những giải pháp ứng phó kịp thời. Tuy nhiên, để hỗ trợ cho các giải pháp ngắn hạn này có hiệu quả, có cơ sở đầy đủ cho việc xây dựng các giải pháp điều hành trong dài hạn, bên cạnh sự nỗ lực của toàn ngành Ngân hàng, cũng rất cần thiết phải có sự chỉ đạo sát sao của Chính phủ và sự phối hợp chặt chẽ của các bộ, ngành hữu quan trong việc cơ cấu lại thị trường tài chính, giảm dần cho vay với lãi suất ưu đãi, phát triển các thị trường nợ một cách có hiệu quả, từ đó sẽ giảm bớt gánh nặng cho khu vực ngân hàng trong việc cung cấp vốn phục vụ cho các mục tiêu phát triển kinh tế của cả nước.

Chú thích:

[i] Lãi suất thực là thu nhập của người thụ hưởng, được tính bằng với lãi suất danh nghĩa trừ đi phần sức mua bị giảm sút do có lạm phát.

[ii] Tổng cầu bằng Tiêu dùng + Đầu tư + Chi tiêu của Chính phủ + (Xuất khẩu – Nhập khẩu).

[iii] Dư nợ tín dụng của Ngân hàng Chính sách xã hội và Ngân hàng Phát triển chiếm khoảng 12,1% tổng dư nợ trong nền kinh tế.

Tài liệu tham khảo

Tài liệu tiếng Việt

- Cục Quản lý cạnh tranh, Báo cáo cạnh tranh các NHTM năm 2009.

- Đặng Ngọc Cảnh, 08/03/2007, một số cải cách gần đây về chính sách tiền tệ của Thái Lan, trang chủ của NHNN (http://www.sbv.gov.vn/vn/home/tinnghiencuu.jsp?tin=370)

Tài liệu tiếng Anh

- Asso, P.F., Kahn, G.A., Lesson, R. (12/2007), The Taylor Rule and The Transformation of Monetary Policy, The Federal Reverse Bank of Kansas City, Economic Research Department.

- Liu, H.C.K., 21/2/2008, The Road To Hyperinflation Part 3: Inflation targeting, Asia Times Online, (http://www.atimes.com/atimes/Global_Economy/JB21Dj02.html)

- Taylor Rule: http://en.wikipedia.org/wiki/Taylor_rule

- Woodford, M., 01/2001, The Taylor Rule and Optimal Monetary Policy, Princeton University

Các trang web tham khảo:

- Ngân hàng Anh: www.bankofengland.co.uk

- Cục dự trữ Liên bang Mỹ: www.federalreserve.gov

- Ngân hàng Nhân dân Trung Hoa: www.pbc.gov.cn/english

(MKLAW FIRM: Biên tập)

>> Xem thêm:  Quy định của pháp luật về vay vốn Học sinh, sinh viên như thế nào ? Chính sách vay ưu đãi cho sinh viên ?

3. Lãi suất cho sinh viên vay vốn được tính như thế nào ?

Thưa luật sư, Lãi suất cho sinh viên vay vốn được tính như thế nào? Cảm ơn!
Gửi bởi: Lê Trinh

>> Luật sư tư vấn pháp luật cho doanh nghiệp trực tuyến gọi số: 1900.6162

Trả lời

Tại Điều 7 Quyết định 107/2006/QĐ-TTg ngày 18 tháng 5 năm 2006 về tín dụng đối với học sinh, sinh viên quy định:

Lãi suất cho vay được áp dụng theo lãi suất cho vay hộ nghèo do Thủ tướng Chính phủ quyết định.

Lãi suất nợ quá hạn được tính bằng 130% lãi suất khi cho vay”.

Đồng thời, theo Quyết định số 579/QĐ-TTg của Thủ tướng Chính phủ ban hành ngày 6/5/2009 thì người nghèo có thể vay vốn tại Ngân hàng Chính sách xã hội với lãi suất 0%.

Trân trọng cảm ơn!

>> Xem thêm:  Vay vốn sinh viên không có tiền trả có bị sao không ? Sinh viên ra trường có được hỗ trợ vay vốn không ?

4. Những quan điểm xung quanh vấn đề lãi suất cơ bản ?

Bộ Chính trị và Chính phủ chủ trương trong những tháng cuối năm 2008 tiếp tục thực hiện chính sách tiền tệ thắt chặt, nhưng linh hoạt trong điều hành để vừa góp phần kiềm chế lạm phát, vừa thúc đẩy đầu tư sản xuất, kinh doanh. Đó là một nhiệm vụ rất nặng nề, đòi hỏi phải có sự điều hành thật khéo léo mới có thể thực hiện được.

Ngân hàng Nhà nước vừa có hai quyết định để thực hiện chủ trương và nhiệm vụ trên- đó là Quyết định 1906/2008/QĐ-NHNN về giữ nguyên lãi suất cơ bản và Quyết định số 1907/2008/QĐ-NHNN về tăng lãi suất dự trữ bắt buộc. Vậy tinh thần “tiếp tục thực hiện chính sách tiền tệ thắt chặt để kiềm chế lạm phát” và “ linh hoạt trong điều hành để thúc đẩy đầu tư sản xuất, kinh doanh” đã được thể hiện trong hai quyết định này như thế nào?

Tiếp tục thực hiện chính sách tiền tệ thắt chặt để kiềm chế lạm phát được thể hiện trong quyết định thứ nhất, đó là giữ nguyên lãi suất cơ bản đã được thực hiện từ 11/6- 14%/năm.

Trong các cuộc hội thảo và trên các phương tiện thông tin đại chúng gần đây xuất hiện hai quan điểm gần như trái ngược nhau về lãi suất cơ bản.

Những quan điểm xung quanh vấn đề lãi suất cơ bản

Luật sư tư vấn pháp luật trực tuyến qua điện thoại gọi: 1900.6162

Một quan điểm là Ngân hàng Nhà nước cần hạ lãi suất cơ bản xuống dưới 14%/năm- ít thì cũng xuống 13,5%/năm, nhiều thì trở về mức 12%/năm, để trên cơ sở đó hạ lãi suất cho vay và hạ lãi suất huy động. Lý giải đề xuất này, quan điểm trên đã đưa ra một số nguyên nhân. Có nguyên nhân do lạm phát đã được kiềm chế, khi tốc độ tăng giá tiêu dùng đã chậm lại. Tháng 7 giá tiêu dùng chỉ còn tăng 1,13%- thấp hơn mức lãi suất huy động của các ngân hàng thương mại hiện nay. Tháng 8, tổ Điều hành thương mại trong nước dự báo giá tiêu dùng sẽ tăng 1,8- 2,0%, nhiều chuyên gia còn dự báo sẽ tăng cao hơn, nhưng thực tế chỉ tăng 1,56%- bằng với mức lãi suất huy động kỳ hạn năm cao nhất của ngân hàng thương mại cổ phần. Nhiều chuyên gia đã dự báo, do nông nghiệp được mùa lớn nhất hiện nay, do giá lương thực và một số mặt hàng quan trọng khác trên thị trường thế giới bắt đầu có xu hướng giảm, do nhu cầu đầu tư và tiêu dùng không còn cao như cùng kỳ các năm trước, do các giải pháp kiềm chế lạm phát phát huy tác dụng…, nên lạm phát trong 4 tháng còn lại sẽ không vượt quá 1%/tháng, tức là thấp hơn mức lãi suất hiện nay của các ngân hàng thương mại. Có nguyên nhân do với mức lãi suất cơ bản hiện hành, thì lãi suất cho vay lên đến 21%/ năm. Với mức lãi suất vay cao như thế này, những doanh nghiệp đầu tư vào lĩnh vực sản xuất kinh doanh thông thường sẽ không thể có lãi; chỉ có những doanh nghiệp đầu tư vào những lĩnh vực nóng mới dám vay, nhưng những lĩnh vực này lại có nhiều rủi ro, kéo các ngân hàng thương mại bị rủi ro theo. Khi các khách hàng của các ngân hàng thương mại không có vốn hoặc không có lãi, thậm chí bị thua lỗ, thì sản xuất kinh doanh sẽ bị thu hẹp, thậm chí một số doanh nghiệp bị phá sản, người lao động sẽ không có hoặc thiếu công ăn việc làm, tăng trưởng kinh tế sẽ bị suy giảm…

Như vậy, theo quan điểm trên, hạ lãi suất cơ bản để trên cơ sở đó hạ lãi suất cho vay để hỗ trợ cho đầu tư sản xuất, kinh doanh. Muốn hạ lãi suất cho vay thì hạ lãi suất huy động, nhưng hạ lãi suất huy động, thì lãi suất huy động sẽ tiếp tục bị thực âm, mà lãi suất bị thực âm thì sẽ dẫn đến 4 hiệu ứng.

Hiệu ứng thứ nhất là người gửi tiền tiếp tục bị thiệt thòi kéo dài, suốt từ nhiều tháng nay (không kể năm 2004, 2005, thì từ tháng 11/2007 đến nay đã có 9 tháng bị thực âm, mới chỉ có 1 tháng là tháng 7 là có thực dương đối với kỳ hạn dài).

Hiệu ứng thứ hai là khi gửi tiết kiệm không còn sức hấp dẫn thì lượng tiền tồn đọng lớn trong lưu thông sẽ lại chạy lòng vòng gây ra những cơn sốt giá trên các kênh bất động sản, vàng, Đôla, chứng khóan, thậm chí cả một số loại hàng hóa như gạo khi đang vào mùa thu hoạch, như xăng khi vừa mới tăng giá…

Hiệu ứng thứ ba sẽ lặp lại tình trạng khó khăn về thanh khoản của các ngân hàng thương mại, khi việc thu hút tiền từ lưu thông do không còn sức hấp dẫn mà dòng chảy bị thu hẹp chảy chậm lại, trong khi việc thu hồi tiền cho vay đến kỳ đáo hạn không dễ dàng như trước đây.

Hiệu ứng thứ tư và là hiệu ứng quan trọng nhất là không thực hiện được việc hút tiền từ lưu thông về để kiềm chế lạm phát theo chủ trương của Đảng và Nhà nước. Lạm phát tuy đã chậm lại, nhưng vẫn còn cao và tính chung 8 tháng (tháng8/2008 so với tháng 12/2007), cũng như tính theo năm (tháng 8/2008 so với tháng 8/2007) còn rất cao. Kiềm chế lạm phát thành công trong những tháng cuối năm chẳng những có tác dụng đối với việc thực hiện các mục tiêu trong năm nay, mà còn tạo điều kiện để sang năm đạt mục tiêu cao hơn.

Một quan điểm khác là cần tăng mạnh lãi suất cơ bản. Quan điểm này chủ yếu là đề xuất của các tổ chức và chuyên gia nước ngòai (đưa thẳng lên 18%/năm, sau đó giảm dần qua các quý cho đến cuối sang năm còn 12%/năm), có một số chuyên gia trong nước cũng đồng tình với quan điểm này, nhưng với mức độ tăng thấp hơn. Những quan điểm này xuất phát từ tình hình thực tế lạm phát vẫn còn cao, thời gian tới còn có nhiều yếu tố tác động làm tăng lạm phát, như nhu cầu đầu tư sản xuất, kinh doanh cuối năm, nhu cầu tiêu dùng vào cuối năm, thiên tai dịch bệnh…

Linh hoạt trong điều hành để thúc đẩy đầu tư sản xuất, kinh doanh được thể hiện trong quyết định thứ hai.

Ngày 20/7/2004, Thống đốc Ngân hàng Nhà nước đã có Quyết định số 923/2004/QĐ-NHNN quy định lãi suất tiền gửi dự trữ bắt buộc bằng đồng Việt Nam đối với tổ chức tín dụng là 1,2%/năm. Quyết định này đã kéo dài trên 4 năm, đã có tác dụng hỗ trợ các tổ chức tín dụng trong điều kiện bình thường. Nay trong điều kiện lạm phát cao, các tổ chức tín dụng đã phải huy động với mức lãi suất khá cao, lên đến trên dưới 18%/năm. Với lãi suất cơ bản 14%/năm, trần lãi suất cho vay của các tổ chức tín dụng lên đến 21%/năm. Với mức lãi suất huy động và trần lãi suất cho vay như trên đã có hai hiệu ứng tiêu cực đối với các doanh nghiệp cũng như người vay và đối với các tổ chức tín dụng.

Đối với các doanh nghiệp và người vay khó tiếp cận với nguồn vốn ngân hàng do lãi suất cao. Với mức lãi suất vay 21%/năm, sẽ rất khó có doanh nghiệp nào có thể hoạt động có lãi, chi phí vốn vay rất lớn do có đến 70-80% lượng vốn hoạt động của doanh nghiệp là phải vay ngân hàng. Ngay cả với mức lãi suất này, nhiều doanh nghiệp cũng khó tiếp cận với nguồn vốn của ngân hàng, do các ngân hàng sợ rủi ro khách hàng không trả nợ đúng hạn, đầy đủ, là tăng độ rủi ro cho hệ thống ngân hàng. Sản xuất của nhiều doanh nghiệp tăng chậm lại, bị thu hẹp, thậm chí có thể dẫn đến phá sản. Tăng trưởng kinh tế đứng trước nguy cơ không đạt được tốc độ tăng trưởng cao hơn trong 6 tháng cuối năm để thực hiện được mục tiêu tăng trưởng 7% do Quốc hội đã điều chỉnh. Việc giải ngân các nguồn vốn đầu tư trong nước thực hiện khá chậm (8 tháng, nguồn vốn đầu tư từ ngân sách nhà nước mới bằng 57,1% kế hoạch năm, trong đó vốn trung ương còn đạt tỷ lệ thấp hơn – mới bằng 51,7%, riêng Bộ Giao thông Vận tải có kế hoạch vốn lớn nhất mới đạt 47,2%, Bộ Xây dựng đạt 22,3%,… khi sản xuất, kinh doanh, tăng trưởng gặp khó khăn, thì nguy cơ thất nghiệp, thiếu việc làm sẽ gia tăng, tác động đến thu nhập, trong khi giá cả tăng, làm cho việc bảo đảm an sinh xã hội sẽ khó thực hiện.

Đối với các tổ chức tín dụng gặp nhiều khó khăn trong 6 tháng đầu năm, trong đó nổi bật nhất là tính thanh khoản. Nay tính thanh khoản đã được cải thiện, một khó khăn khác lại nổi lên là lợi nhuận không những không đạt như kế hoạch đầu năm mà còn bị sút giảm mạnh do cho vay gặp khó khăn. Nhiều tổ chức tín dụng vừa qua đã rất tích cực trong việc hạ lãi suất cho vay, nhưng mức hạ không nhiều, do chênh lệch giữa lãi suất cho vay và lãi suất huy động còn rất ít; hạ lãi suất huy động cũng đã được thực hiện nhưng như thế vừa huy động vốn, vừa ngược với chủ trương kiềm chế lạm phát của Đảng và Nhà nước. Vì vậy, Quyết định số 1907/2008/QĐ-NHNN về tăng lãi suất dự trữ bắt buộc từ 1,2%/năm lên 3,6%/năm đối với các tổ chức tín dụng.

Việc tăng lãi suất dự trữ bắt buộc lên gấp 3 lần đã có động hỗ trợ các tổ chức tín dụng, tạo điều kiện để các tổ chức này hạ lãi suất cho vay, góp phần chia sẻ cùng doanh nghiệp và người vay, tác động thúc đẩy đầu tư, sản xuất kinh doanh phát triển.

Những quyết định của Thống đốc Ngân hàng Nhà nước có tác động kép; vừa tạo được sự đồng thuận của người gửi tiền, của tổ chức tín dụng, của các doanh nghiệp; vừa góp phần kiềm chế lạm phát, ổn định kinh tế vĩ mô, vừa thúc đẩy đầu tư, sản xuất kinh doanh./.

(MKLAW FIRM: Biên tập.)

>> Xem thêm:  Có được miễn giảm lãi của ngân hàng khi bị ảnh hưởng của dịch covid 19 ? Mức lãi suất cho vay ?

5. Thu nhập cả vốn và lãi một ngày chưa đạt 70 nghìn có cần đóng thuế không ?

Xin chào Luật sư! Em xin hỏi Luật sư gia đình em ở nông thôn, có mua máy photocopy và in màu danh thiếp thiệp cưới túi nilon. Ở nông thôn người ít thưa thớt, thỉnh thoảng mới có khách đến photo. Đôi khi gia đình em cũng phải đóng cửa đi làm ruộng, làm chè gần như chiếm 70% vắng, photo thì ít. Em có đăng ký hộ kinh doanh rồi, thu nhập cả vốn và lãi một ngày chưa đạt 70 nghìn đó là ở nhà, mà em cũng chỉ tranh thủ thôi.
Vậy em có phải làm gì và có phải đóng thuế gì không?
Xin Luật sư tư vấn giùm! Em xin chân thành cảm ơn!
Người gửi: giom

>> Xem thêm:  Cho vay lãi suất cao khi nào thì phạm luật ? Những chiêu thức lừa cho vay với lãi suất cắt cổ ?